Tác phẩm văn học
“ĐEM CON NGƯỜI ĐẾN BÊN CON NGƯỜI”: BÀN VỀ MỤC ĐÍCH CỦA NGHỆ THUẬT
Bài viết này được tôi thực hiện trong dịp tham dự Kỳ thi Giao lưu Học sinh giỏi Đội tuyển Quốc gia môn Ngữ văn năm học 2023-2024, với sự góp mặt của sáu tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định và Thanh Hóa. Dĩ nhiên, có những nhận định mà nếu được viết lại hôm nay, tôi có lẽ sẽ diễn giải theo một cách khác, hoặc cân nhắc kĩ lưỡng hơn. Tuy vậy, tôi quyết định giữ lại bài viết như một tư liệu ghi dấu quá trình học tập, đọc và viết của bản thân; đồng thời cũng là một dịp nhìn lại những năm tháng gắn bó với Đội tuyển Học sinh giỏi Ngữ văn ở cấp học phổ thông. Qua đó, tôi cũng muốn nhắn nhủ tới các học sinh của mình nói riêng và những bạn đang ôn luyện, tham dự các kì thi học sinh giỏi nói chung rằng: ngay cả khi đã dành nhiều thời gian học tập, rèn luyện và chuẩn bị, bài viết của chúng ta vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, những nhận định chưa thật thấu đáo hay những cách diễn đạt chưa hoàn thiện. Và có thể, chính những "vết xước" trong bài viết như vậy mới là cái làm nên sự hết sức "con người" của mỗi cá nhân.
Lưu ý: Đây là bài viết cá nhân của tôi. Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn bài viết khi trích dẫn, chia sẻ hoặc sử dụng lại nội dung dưới bất kì hình thức nào.
Đề: Trong diễn từ đọc tại Tiệc chiêu đãi những người đoạt giải Nobel, nhà văn Svetlana Alexievich viết: “Nghệ thuật có thể là gì? Mục đích của nghệ thuật - đem con người đến bên con người. Nhưng cái hồi tôi đến với cuộc chiến ở Afghanistan, và bây giò, khi nói chuyện ở Ukraina với người tị nạn từ Donbass, tôi nghe ra sự đổ vỡ nhanh chóng thế nào cái con người văn hóa và lòi ra hạng quái vật. Trần trụi lũ súc sinh... Rồi tôi viết... tôi tiếp tục viết...Tôi viết như các vị thầy đã dạy tôi, các nhà văn Belarus Ales Adamovich và Vasil Bykov mà ngày này tôi những muốn nhớ đến họ với lòng biết ơn. Như người bà nội Ukraina đã dạy tôi mà thời ấu thơ đã đọc cho tôi nghe đến thuộc lòng cuốn sách “Kobzar nghệ nhân” của Taras Shevchenko. Tôi viết, để làm gì? Người ta gọi tôi là nhà văn về tai ương, điều này không đúng, tôi luôn mưu tìm ngôn từ yêu thương. Oán hờn không cứu vãn chúng ta. Chỉ có tình yêu. Tôi hy vọng...”
Theo nhà văn Svetlana Alexievich, mục đích của nghệ thuật là gì? Từ hiểu biết và trải nghiệm văn học, hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của bạn về ý kiến của nhà văn.
Bài làm:
Con người - đã có lúc tôi tự hỏi - tìm đến văn chương vì điều gì? Có chăng là bởi thiếu đi những hơi ấm và sự liên kết, gắn bó chặt chẽ ngay trong thế giới thực tại, nơi mà tám tỉ người san sát nhau và trong tương lai hoàn toàn có thể lấp đầy hành tinh xanh này? Văn chương nói riêng, và nghệ thuật nói chung, sinh ra mang theo sứ mệnh của riêng mình; và người nghệ sĩ sáng tạo nên những công trình nghệ thuật cũng là người hiểu rõ nhất, nhận thức sâu sắc nhất, liệu đối với anh ta: mục đích của nghệ thuật là gì? Với Svetlana Alexievich, phát biểu của bà trong buổi diễn từ đọc tại Tiệc chiêu đãi những nhà văn đoạt giải Nobel đã dấy lên trong lòng ta những ý niệm đầu tiên phút nhất: Mục đích của nghệ thuật - phải chăng là việc “đem con người đến bên con người” trong khát vọng “mưu tìm” những “ngôn từ yêu thương” của người cầm bút, với tất cả “tình yêu” và niềm “hi vọng” sốt sắng hiện diện trong mỗi con chữ?
Đặt ra những câu hỏi muôn đời còn trăn trở của giới nghệ sĩ và cả triệu công chúng tiếp nhận: “Nghệ thuật có thể là gì?”, nữ nhà văn đã đưa tới câu trả lời khẳng định ngay sau đó: “Mục đích của nghệ thuật - đem con người đến bên con người”, làm cho những cá thể người tồn tại đến sát lại gần nhau hơn. Câu nói còn ẩn chứa một giả định: con người có những ngăn cách, và từ đây, nhiệm vụ của văn học là cần vượt qua những rào cản ấy để đưa con người lại gần bên nhau. Nhưng có thật - nghệ thuật chỉ có vậy, rằng những chữ “đem-con-người-đến-bên-con-người” chỉ được hiểu đơn giản theo những lý thuyết xơ cứng nằm trên trang lý luận? Mục đích của nghệ thuật trong tâm thức của Svetlana Alexievich đã được kiểm nghiệm bằng chính những trải nghiệm thực trong đời sống của bà: đến với cuộc chiến ở Afghanistan, nói chuyện ở Ukraina với người tị nạn từ Donbass, và nghe ra sự “đổ vỡ nhanh chóng” của “cái con người văn hóa” và để “lòi ra hạng quái vật” - tức là khi con người để cho phần “con”, thứ bản năng chết chiếm lĩnh lấy phần “người”, phần nhân tính một cách thảm thương và biểu hiện ra ngoài bằng những phương thức, phương diện khác nhau, có khi “trần trụi” đến đáng sợ “lũ súc sinh” ấy. Viết - viết - viết, ấy là cách mà nhà văn đã tiếp tục đi kiếm tìm và thể nghiệm mục đích sau cuối của nghệ thuật: viết như các “vị thầy” đã dạy người, các nhà văn Belarus Ales Adamovich và Vasil Bykov mà ngày này người luôn muốn nhớ đến họ với lòng biết ơn và thành kính sâu sắc, và cả “như người bà nội Ukraina đã dạy tôi mà thời ấu thơ đã đọc cho tôi nghe đến thuộc lòng cuốn sách "Kobzar nghệ nhân’ của Taras Shevchenko.” Trong thời gian ấy, câu hỏi mà người cầm bút luôn trở đi trở lại, để tự nhắc nhở mình, để tự vấn chính mình từng giây phút: “Viết, để làm gì?”. Bà phủ định việc bản thân là “nhà văn về tai ương” mà tự nhận - mình “luôn mưu tìm ngôn từ yêu thương”, đi kiếm tìm những “yêu thương” đằng sau chính những “tai ương” trên trang viết mà người phản ánh; phủ nhận cả mong muốn được “cứu vãn” của nhân loại dựa trên con đường “oán hờn”, thù hận. Mục đích của nghệ thuật dường như đã được làm cho sáng tỏ: “Đem con người đến bên con người” trong cuộc “mưu tìm ngôn từ yêu thương”, dẫu có viết về những phản trắc, góc tối và oán thù, thì “tình yêu” trên trang văn, được người nghệ sĩ chân chính “kì vọng” sẽ chiến thắng tất cả. Từ đây, văn học phải gắn liền với sứ mệnh vượt lên những ngăn cách giữa người - người để đưa con người lại gần bên nhau; đồng thời, phương hướng và lời nhắc nhở về thiên chức của người cầm bút cũng được đặt ra trong suốt hành trình sáng tạo của họ.
Khởi nguồn từ đặc trưng như một hình thái ý thức xã hội, các loại hình nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn hướng tới phục vụ cho đời sống thực tại, quan trọng hơn cả là tập trung xoáy sâu vào trung tâm - con người. Nhà văn Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định mục đích và sứ mệnh của văn học là “vươn tới, hướng về con người, níu giữ mãi mãi tính người cho con người”, để họ không tự cao, tự phong cho mình thành những “ông thánh vô duyên, vô bổ”, hoặc sa xuống làm con vật đớn hèn, bản năng thấp kém. Văn chương đồng hành cùng con người từ thuở hồng hoang, những ngày còn ngập chìm trong bóng đêm nơi hang đá, của những “đêm trường trung cổ”, cho tới thời đại ngày nay - khi mà xã hội loài người phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết về mọi mặt, đặc biệt là các ngành khoa học cơ bản. Nghệ thuật đi song song với khoa học - cải thiện đời sống vật chất bên ngoài của nhân loại, chăm lo cho đời sống bên trong của con người, và theo thời gian, hình thành nơi mỗi cá thể những nhân cách tốt đẹp, những nhận thức sâu sắc về bản thân trên nhiều phương diện phong phú, trong các mối quan hệ đa dạng đầy phức tạp. Hơn cả, cũng bởi văn chương chuyên chở những khả năng đặc biệt, sức tác động mạnh mẽ thông qua ngôn từ và hình tượng nghệ thuật, những tác phẩm ẩn chứa trong đó bầu sữa ấm nóng của tình cảm, tư tưởng người viết, cứ thế lan tỏa tới người đọc, cuốn hút họ bằng năng lực giúp cho độc giả nhập thân, sống trọn vẹn với những mảnh đời diễn ra sống động trong tác phẩm, “đổi mới ý thức” (từ dùng của Nguyễn Thị Thanh Hương), đắp bồi những cảm xúc thẩm mỹ, làm nảy nở và thức nhọn những rung động tinh vi đáng quý. Nhà văn sáng tác văn chương, phần nào cũng bởi cái lẽ ấy, sứ mệnh của văn chương sau cùng cũng là nhiệm vụ đặt ra đối với người nghệ sĩ: “đem con người đến bên con người”.
Nghệ thuật vượt qua những ngăn cách giữa người - người để “đem con người đến bên con người” qua nhiều cách thức khác nhau. Đó có thể là lời tri âm của đại thi hào Nguyễn Du trong “Độc Tiểu Thanh kí”, gửi trao tới nàng Tiểu Thanh - người con gái bất hạnh, tài sắc vẹn toàn nhưng chịu kiếp gian truân, bạc mệnh của kẻ “tài tử đa cùng” sống trên đời, sau khi nghẹn ngào xúc động khôn nguôi trước tập “Phần dư” mà nàng để lại, trong hoàn cảnh “độc điếu song tiền nhất chỉ thư”:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư.”
Nhận ra bản thân là người “cùng hội cùng thuyền” với Tiểu Thanh, và rộng hơn nữa là những kiếp tài hoa cùng chính những nhân vật trong sáng tác của mình: đó là nàng Kiều, là chàng Từ, là Đạm Tiên trong khúc “Đoạn trường tân thanh”, là người con gái gảy đàn cô đơn ở đất Long Thành,... Tố Như đã mượn những vần thơ, mượn văn chương mà gửi lời đồng điệu, thấu cảm sâu sắc với nàng. Đó là lúc mà nghệ thuật, theo một lẽ riêng, đã vượt qua rào cản thời gian - ba trăm năm lẻ và sự khác biệt văn hóa, để “đem con người đến bên con người” với lòng “yêu thương” và sự sẻ chia chân thành hơn bao giờ hết. Và có chăng, cũng theo cách ấy, Tố Hữu, Chế Lan Viên, và “một ngày kia”, biết bao nhiêu người đọc Nguyễn Du, lại tìm đến những áng thơ văn để một lần, và hơn một lần nữa được đến gần hơn bên người.
Hay như thiên truyện ngắn cảm động của cố nhà văn O.Henry - “Chiéc lá cuối cùng”, ta thấy văn chương nghệ thuật đã mãnh liệt băng qua bức tường không gian, “đem con người đến bên con người” bằng câu chuyện ngắn gọn nhưng bao chứa những xúc cảm trọn vẹn. Hình ảnh chiếc lá thường xuân trên bức tường - thành quả kết tinh một đời của người nghệ sĩ già lao lực Bơ-men, là minh chứng rõ nét cho mục đích cao cả của nghệ thuật. Bức họa chân thực đến độ làm cho bản thân Giôn-xi - một họa sĩ, cũng lầm tưởng đó là một chiếc lá thực sự, nghệ thuật lúc này đã vị nghệ thuật khi làm cho người ta cảm thấy nó đẹp, nảy sinh những rung động trước nó. Nhưng không chỉ thế, mục đích cao cả của nghệ thuật cũng được gắm gửi qua bức tranh chiếc lá thường xuân kia - ấy là khả năng “vị nhân sinh” - giành giật Giôn-xi khỏi tay tử thần, cứu sống cô bằng niềm hi vọng và thứ sức mạnh lạ kì. Chỉ khi xuất phát từ mong muốn “vị nhân sinh” và thực hiện năng lực “vị nhân sinh”, nghệ thuật mới đem lại cho chính nó sức sống mãnh liệt và bất tận trước mọi “sự băng hoại của thời gian” (Sêđrin). Văn chương đã “đem con người” ở khắp mọi nơi trên thế giới được đến với con phố nhỏ hẹp, nơi một căn trọ tồi tàn bé nhỏ, vô danh của xứ sở cờ hoa, nhưng cũng đồng thời kéo sát những tấm lòng thương yêu lại gần với nhau, sưởi ấm và tỏa sáng mãi mãi. Nghệ thuật làm được điều ấy, bởi bao giờ nó cũng hướng người ta tới thứ cảm tình “nhân bản” - điểm giao kì lạ giữa những cá thể tưởng chừng khác biệt đến vô cùng.
Tuy vậy, sẽ không thể chỉ khẳng định tình yêu thương - mục đích của văn chương nghệ thuật - luôn được hiển lộ trên trang viết một cách trực tiếp, dễ thấy, định hướng người đọc bằng những câu chuyện đẹp, với tình tiết cao thượng điển hình và viên mãn hơn nữa với một cái kết ấm áp. Văn học có thể chẳng giản đơn nói lên những thứ tình cảm nhân loại một cách khô khan, triết lý, đậm tinh thần giáo huấn, tải đạo, nói chí. Nghệ thuật tìm cách vươn tới những điều cao hơn thế, để ngay cả khi nó viết về những điều xấu xa, mạnh dạn bóc tách không nương tay những mặt trái đớn hèn, lột tẩy và phanh phui phần con, phần bản năng chết trong một con người tồn tại, nó cũng trở về, và hướng người ta trở về với cội nguồn của tất cả: là “tình yêu”, là “yêu thương”, là mục đích “đem con người đến bên con người”. Thậm chí, những sự kiện mang tính phản tư mạnh mẽ lại càng làm thức nhận được tác động, lay chuyển mãnh liệt hơn nữa. Khả năng của nghệ thuật cùng mục đích của nó càng được khẳng định.
Đó chính là khi con người phát động trong lòng những bừng ngộ. “Thơ không hát ta say mà lay ta thức” (Lưu Quang Vũ), “thơ không đưa ru mà còn thức tỉnh/ Không chỉ ơ hời mà còn đập bàn, quát tháo lo toan” (Chế Lan Viên). Chẳng riêng gì thơ, văn chương nghệ thuật cũng đều cần trở nên những viên muối bể, để “làm nặng lòng những kẻ muốn vô tư”, trở thành những liều morphine làm người ta say sưa cuốn vào nhưng sau cùng, để lại bao bứt rứt, dằn vặt và suy tư. Lỗ Tấn đã dành cả cuộc đời trải nghiệm mọi ngành nghề, cuối cùng lại quyết định từ bỏ con đường y sĩ cứu người để viết văn - để thực hiện mục đich cao nhất của chính ông, cũng chính là mục đích cao cả của nghệ thuật: “đem con người đến bên con người” bằng cách chữa khỏi căn bệnh dân quốc u mê đang hoành hành nơi người dân Trung Hoa. Không đề cập trực tiếp bằng những khẩu hiệu hay tuyên ngôn bộc trực, Lỗ Tấn gắm gửi mục đích cao quý ấy đằng sau những trang truyện của mình - lột tả chân thực sự “đổ vỡ nhanh chóng” cái “con người văn hóa và lòi ra hạng quái vật”, “trần trụi súc sinh”. Hình tượng cái bánh bao tẩm máu người cùng những chi tiết người ta chúc mừng nhau vì đã “may mắn” dành được suất lấy máu của tên tử tù bị xử án, hơn bao giờ hết phơi bày bộ mặt của những con người đổ vỡ nhân tính, sẵn sàng chém giết, diệt trừ và ăn thịt đồng loại - đó không phải những hành động, những cách ứng xử mà một con người văn minh, một cộng đồng văn minh sẽ làm. Nghề y sĩ cứu tính mạng của một con người, nhưng nghề văn với sức mạnh của nghệ thuật, giờ đây lại có thể cứu được cả huệ mạng của cả một thế hệ, một dân tộc - đưa con người ra khỏi những cách ngăn của lậm lụy và mê muội. Chỉ có vậy, mới hình thành ở nhân loại khả năng tỉnh thức và sự gắn kết bền chặt, cơ hội được đến gần bên nhau. Ta nhận ra, đặt trong những “trạng huống” (Hoài Thanh) như thế, nghệ thuật có khi lại là thứ “thuốc” hữu hiệu nhất.
Ngay bản thân Svetlana Alexievich sau khi dấn thân vào cuộc chiến ở Afghanistan với tư cách là một người lính nữ, đã quyết tâm viết cuốn “Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ”. Trong tác phẩm, những người lính nữ cũng chính là hiện thân khác nhau của tác giả và những người đồng đội, khi đã rời xa chiến tranh và nhớ lại những ám ảnh man rợ thời chiến. Không phải là những cảnh chém giết, phải mạo hiểm tính mạng xả thân mình nơi chiến trường thực hiện các nhiệm vụ cam go và giật gân. Thật bất ngờ, điều đã ráo riết bám víu lấy họ lại là hình ảnh chú ngựa con đang thong dong gặm cỏ trên cánh đồng, chỉ sau một tiếng hiệu lệnh lẫn hòa trong thanh âm cười đùa thúc giục của những chàng lính tráng, đã gục ngã sau cú nã đạn không ngừng - dưới chính khẩu súng và đôi bàn tay của người con gái mà trước đây, việc làm bị thương một con vật nhỏ cũng làm cho cô cảm thấy dằn vặt, day dứt. Rõ ràng, con người chỉ đang mượn chiến tranh và lí do “vì chính nghĩa” và vì phải “phòng vệ” trước những tấn công của kẻ địch - lời tuyên ngôn tưởng chừng khảng khái và hết sức cao đẹp, nhưng lại cũng mượn chính chiến tranh làm dịp cho thú tính có cơ hội thức tỉnh và chiếm thế thượng phong, “tận dụng” cuộc chiến giằng co để thỏa mãn những ham muốn chết chóc, man rợ của mình. Đó là thứ ám ảnh đeo bám những người lính nữ không bao giờ nguôi ngớt, là một khoảnh khắc thức nhận, bừng ngộ về phần con độc ác và đầy xảo trá bấy lâu luôn hiện hữu trong con người mà hằng ngày, hằng giờ bị che phủ mất bởi cái hào nhoáng của áo quần, thiết bị, máy móc hiện đại. Chỉ khi đặt con người vào những điều kiện chông chênh như đi trên sợi dây văn minh mà chỉ cần khinh suất một tích tắc thôi là có thể dễ dàng rơi xuống hố sâu thú vật đang chờ chực “gọi mời” dưới kia, họ mới bộc lộ hết bản chất, và phải thật sự đấu tranh để đưa ra quyết định sẽ ngả về bên nào. Văn chương nghệ thuật không đơn điệu bày ra những cảnh yêu thương để khiến “con người đến bên con người”, mà đôi khi khiến cho người ta giật mình trước những mặt dơ bẩn và nhem nhuốc nhất của chính mình, để hình thành mạnh mẽ ý thức sâu sắc về việc chế ngự chúng - đưa con người lại gần với chữ “người” hơn. Chỉ khi là “người”, con người mới biết tìm đến bên con người. Chỉ khi dám đối diện với những sự băng hoại nhân tính của nhân loại trong chiến tranh, người ta mới biết thương lấy nhau mà ngăn chặn chiến tranh bằng mọi giá. Nghệ thuật không đứng ngoài chỉ trỏ, nghệ thuật đốt lửa trong lòng ta và đốt cả đi những rào cản với chính mình, để được thấu hiểu mình hơn - trước khi tiến đến thấu hiểu kẻ khác, lại gần bên những kẻ khác. Dẫu biết ngọn lửa “tai ương” ấy có đôi lúc làm ta sốt sắng, nhưng sau những cơn sốt sắng, thứ còn sót lại phải chăng là tình yêu thương và niềm hi vọng.
Có thể nói, phát biểu của Svetlana Alexievich đã rất xác đáng khi đề cập tới mục đích cao quý của nghệ thuật. Lời nhắc nhở này càng có ý nghĩa hơn khi đặt trong bối cảnh ngày nay - khi những hệ giá trị tốt, xấu lẫn lộn, những khoảng cách vô hình giữa người với người ngày một bị nới rộng bởi sự ra đời của các thiết bị công nghệ, đời sống dồn dập và xô bồ, vội vã. Từ đây, trách nhiệm của người cầm bút được đặt ra và yêu cầu ráo riết: anh cần sống sâu sắc, ngụp lặn trong bể đời để có được những trải nghiệm sống chân thực và quý giá, biết đặt ra những trăn trở về con người và cuộc sống, biết “sáng mắt sáng lòng’ (Louis Aragone) để đứng cao hơn một bậc với những điều xấu xa, để viết về nó nhưng không sa vào nó. Mục đích của nghệ thuật cũng sẽ chỉ đạt được khi người đọc đến với văn chương bằng tấm lòng rộng mở và tâm thế cởi mở đón nhận, tiếp thu, tự nhận thức và sàng lọc, biết biến những thức nhận ấy thành hành động thiết thực để cải tạo cuộc sống, đưa con người lại gần với nhau hơn.
Mục đích của nghệ thuật, xưa này đều vô cùng đa dạng. Nhưng điều quan trọng hơn tất cả vẫn là vì con người, vị nhân sinh mà nghệ thuật tồn tại. Chỉ khi có thể làm dấy lên trong ta những rung động cảm xúc mãnh liệt, và “đem con người đến bên con người” với niềm những “ngôn từ yêu thương” cùng niềm tin, hi vọng, văn chương khi ấy mới có cơ hội trở thành bất tử, sống mãi trước mọi thăng trầm, biến động của lịch sử thời gian.
Tác giả: Anh Thư
Biên tập: Anh Thư