Âm nhạc/Nghệ thuật âm thanh
HÌNH DUNG VỀ BA TƯ TRONG "IN A PERSIAN MARKET" CỦA ALBERT KETÈLBEY
(Bài viết chủ yếu bình luận bản chuyển soạn cho piano độc tấu; những nhận xét về phối khí được đối chiếu với bản dành cho dàn nhạc.)
“Phiên chợ Ba Tư” là một bản nhạc nhẹ nổi tiếng của nhạc trưởng, nghệ sĩ piano Albert William Ketèlbey. Là một bản nhạc nhẹ được chơi trên một dàn giao hưởng chuẩn phương Tây - gồm bộ gõ, bộ dây, bộ đồng, tác phẩm lại nhằm thể hiện những âm điệu của xứ sở Ba Tư - bản thân điều này đã thể hiện một sự “gặp gỡ” về văn hoá.
Trong “Phiên chợ Ba Tư”, Albert Ketèlbey chia bản nhạc ra làm 9 phần - việc chia ra chương/phần như vậy là điều quen thuộc ở những bản piano cổ điển; tuy nhiên, nét độc đáo của Ketèlbey nằm ở việc mỗi một phần lại được dùng để miêu tả một khung cảnh nào đó, hệt như một vở nhạc kịch. Những chỉ dẫn bằng lời và thanh âm hòa điệu giúp người nghe liên hệ sự thay đổi của âm nhạc với diễn biến của khung cảnh.
Phần 1 viết về cảnh đoàn lạc đà đang tiến dần tới chợ: “The camel-drivers gradually approach”. Những dòng đầu của bài thơ có sự kết hợp của hai quãng nhạc khá “xa” nhau, với tay trái đánh ở khoảng quãng 1,2 (Bassi Ostinato - kĩ thuật bè trầm của phương Tây) và tay phải đánh ở khoảng quãng 6,7 - gợi ra hai thứ âm thanh xuyên suốt: tiếng bước chân lạc đà (trầm) và tiếng những cái lắc trên cổ của chúng (cao). Tempo nhanh, nhiều nốt đơn, kép, gợi ra nhịp đi đều đều và nhanh chóng của đoàn người. Giai điệu mạnh dần lên, ban đầu là pp, tới f và rồi ff khắc hoạ cảm giác vội vã dần tăng, khiến cho những bước chân của lạc đà mạnh hơn. Tới gần hết phần 1, ta dần thấy sự xuất hiện của những “nốt chập”, khiến cho ta cảm giác như tiếng lạc đà đang to dần lên, báo hiệu cho việc đoàn người đã gần tới phiên chợ. Phần 1 kết thúc với 3 “nốt chập” đơn, ngay trước một khung nhạc với gần như toàn những nốt kép, hệt như những chú lạc đà dần rảo chân chậm lại, bước vào khu chợ.
Đặt điểm nhìn khi đã vào trong khu chợ, phần 2 tập trung khắc hoạ khung cảnh những người ăn xin van nài: “The beggars in the market-place”. Ngay trong bản nhạc, tác giả đã ghi thêm những tiếng van xin ở bên ngoài khung nhạc: “Backsheesh, backsheesh, allah”. Nhưng không cần những dòng ấy ta cũng có thể cảm nhận được sự van nài trong những tiếng nhạc: kí hiệu ff (yêu cầu người chơi nhạc chơi thật mạnh) gợi ra sự da diết của tiếng cầu xin. Giai điệu được lặp lại nhiều lần, tuy nhiên ở đoạn sau thì cao hơn và mạnh hơn (“chập” nhiều nốt cao hơn, đánh rất mạnh - fortissimo). Người ăn xin là một hình tượng nổi bật trong không gian văn hóa dân gian phương Đông, nhưng trong tác phẩm, lại được thể hiện bằng một cách rất “phương Tây”: Trong bản gốc được đánh bởi dàn giao hưởng, phần lời van nài được thể hiện bởi dàn đồng ca nam, và thay vì để họ hát theo lối ngâm vịnh tự nhiên, đơn điệu của phương Tây, Ketèlbey lại để họ hát hợp xướng bốn bè - đặc trưng của hát opera hoặc trong các nhà thờ phương Tây. Ketèlbey, bằng chất liệu của châu Âu, vẫn có thể làm sống dậy được khung cảnh Ba Tư mà ông muốn miêu tả. Phần này kết thúc một cách đầy trọn vẹn với một nốt đen (C2), có lẽ những tiếng van xin của những người đói khổ đã bị lấn át hoàn toàn bởi một thứ âm thanh mang sắc thái hoàn toàn trái ngược, mà phần 3 sẽ miêu tả.
Phần 3 viết về cảnh khung chợ khi nàng công chúa bước vào. Khi này bản nhạc chuyển sang tone F, vốn là một tone có tính nhẹ nhàng, du dương vô cùng và là đặc trưng của dòng nhạc lãng mạn của Châu Âu; kết hợp cùng sustain pedal và các nốt appregio được dùng hàng loạt làm cho những sự “ồn ào” của phần 2 biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại sự dịu dàng của nàng công chúa. Nghe phần 3 ta cũng có thể cảm giác được ngay sự du dương dù có thể không chú ý tới những kĩ thuật này, tuy nhiên phần này lại được kết thúc với một âm khá cao, hơn hẳn những nốt khác trong phần này. Phải chăng đó là tín hiệu cho một thứ “âm thanh” khác không trầm bổng, nhẹ nhàng như nàng công chúa mà vui nhộn, “lảnh lót” hơn?
Ngay nối tiếp phần 3, phần 4 bắt đầu bằng những nốt tam, khiến cho nhịp điệu trở nên nhanh hơn một cách vô cùng đột ngột. Phần 4 chủ yếu được viết với những nốt rất cao, ở khoảng quãng 6, vừa là sự tiếp nối đầy liền mạch từ nốt kết thúc của phần 3, cũng vừa gợi ra một cảm giác vui tươi, giải trí (như tôi đã viết). Phần 4, vì chủ yếu đều là nốt kép nên có cảm giác vô cùng dồn dập, nhanh chóng - đúng như điều Ketèlbey muốn miêu tả: những chú hề tung bóng (jugglers) trong khu chợ, họ tung bóng rất nhanh và làm công việc mua vui, giải trí cho người khác. Tiếp tục viết về những người “mua vui”, phần 5: “The snake-charmer”, khắc hoạ cảnh những người biểu diễn rắn. Một hợp âm trầm (C2+G2) được lặp lại gần như xuyên suốt, tạo cảm giác nặng nề, căng thẳng và hệt như tiếng gầm gừ, tiếng thở trầm đều của những con rắn. Giai điệu chùm 5 nốt tam được lặp lại nhiều lần, (xuôi+ngược) gợi ra cảm giác như tiếng sáo thổi cho rắn nghe của những người biểu diễn rắn, thế nhưng, dù là khi thổi sáo những con rắn vẫn không thôi tiếng gầm gừ và cảm giác căng thẳng, có chút sợ hãi nhưng đầy kịch tính vẫn không hề biến mất (những hợp âm ở tay trái vẫn xuất hiện xuyên suốt). Chùm 5 nốt được lặp lại liên tục được viết theo thang âm Phrygian - một thang âm xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng được đưa vào Châu Âu từ những năm thế kỉ thứ 9; gợi ra một sự giao thoa của hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, ở phần cuối, dường như tiếng thở của những con rắn không còn được nghe thấy, phải chăng những người đó đã rời đi và ai đó đang thổi kèn (những nốt nhạc cuối) để đón tiếp một người nào đó vô cùng quan trọng?
Đó chính là ngày Calịph - phần 6: “The Caliph passes through the market-place” (người thủ lĩnh của người Muslim) xuất hiện với nhịp điệu nhanh, rộn ràng, vui tươi và nhẹ nhàng hơn phần 4,5. Giai điệu từ cao trở nên trầm dần, gợi ra sự rời đi của ngài Caliph, và nhường chỗ cho tiếng van xin của những người ăn xin ở phần 7. Tuy nhiên, ở phần 7, dù vẫn là tiếng của những người ăn xin(vẫn những giai điệu như phần 2), xong giai điệu nhẹ hơn nhiều so với trước, gợi ra cảm giác những người ăn xin dường như đã mệt lả vì đói, vì nắng hoặc vì sự ồn ã của khu chợ; tới mức tiếng nài nỉ cũng như mỏi mệt theo. Hình ảnh Caliph - biểu tượng của quyền lực văn hoá tôn giáo Ba Tư, được thể hiện bằng phương tiện biểu hiện quyền lực của phương Đông - ở bản gốc, Ketèlbey đã cho chơi toàn bộ bộ gõ mạnh và bộ đồng, những nhạc cụ đặc trưng trong hành khúc hoàng gia Anh. Tác giả đã vô thức dùng “ngôn ngữ quyền lực” phương Tây để khắc hoạ sự quyền lực thuộc về phương Đông.
Và rồi, bản nhạc lại quay trở lại với những giai điệu của phần 1, khắc hoạ khung cảnh đoàn người cưỡi lạc đà rời đi; đồng thời cũng có những đoạn giai điệu lấy từ phần của nàng công chúa - gợi ra những dư âm của nàng để lại với khu chợ này - như cái đẹp duy nhất, cái dịu dàng duy nhất trong cái nắng oi bức, trong những tiếng van xin của những kẻ hành khất. Phải chăng, đó cũng chính là hình bóng nàng đã để lại trong tâm trí những người thương nhân đi trên con lạc đà? Dù in sâu trong tâm trí, nhưng cuối cùng họ vẫn phải tiếp tục hành trình: cũng rời khỏi khu chợ như nàng công chúa, và chỉ còn in trong kí ức một chút gì đó dịu dàng và đẹp đẽ, thi thoảng lại len lỏi trong những tiếng bước chân của lạc đà và tiếng leng keng của chuông buộc trên cổ chúng? Lời nhạc dần trầm hơn ở đoạn cuối, không còn cao như phần 1 (quãng 6-7), gợi ra cảm giác những con lạc đà đang dần đi xa khỏi khu chợ, chỉ còn nghe thấy những tiếng bước chân mờ nhạt.
Phần cuối, chỉ vỏn vẹn 2 dòng nhạc, cũng chính là kết thúc của tác phẩm: khi những nốt nhạc ở khoá Son dần biến mất hoàn toàn, chỉ để lại những nốt trầm, buồn của khoá Fa, gợi ra khung cảnh sa mạc trống rỗng chẳng còn một ai cả: công chúa, ngài Caliph, đoàn người cưỡi lạc đà, chú hề tung hứng, người biểu diễn rắn, người ăn xin,.... Thế nhưng, ta vẫn thấy loáng thoáng giai điệu của phần 1, mờ nhạt những tiếng lạc đà của đoàn người? Phải chăng đó là vì họ vẫn chưa đi quá xa? Hay là đó cũng chính là tiếng lạc đà, dù nhỏ và khó nghe thấy, của đoàn người đang quay trở lại - vì đã đến ngày hôm sau? Ở ngay khung nhạc cuối cùng của tác phẩm lại xuất hiện một hợp âm khối ở khoá Son, ở quãng 4-5, dù mờ nhạt, nhưng có lẽ đây là một dấu hiệu nữa cho một ngày mới đến, với những khung cảnh và con người hệt như “ngày hôm nay”, với tiếng lạc đà đang dần dần quay trở lại? Có chăng, sẽ tiếp tục lặp lại những khung cảnh, những giai điệu, những âm sắc hệt như hôm qua, hệt như những gì nhạc sĩ đã chơi từ đầu tới cuối bản nhạc?
Xuyên suốt tác phẩm, dù có thể mỗi một phần lại mang một sắc thái khác nhau, nhưng ta vẫn thấy một “điểm chung”: đều viết về con người, dù đó là con người cao quý (công chúa, Caliph) hay những người nghèo khó, khốn khổ (người ăn xin), hay những người vốn chỉ làm công việc “mua vui” (người biểu diễn rắn, chú hề tung bóng). Có những lúc dáng hình con người dường như mờ nhạt đi (đặc biệt trong phần 9), nhưng chúng không bao giờ biến mất. Lời nhạc của mình là cách Ketèlbey viết về số phận của vô số con người khác biệt nhưng lại tìm được một điểm chung - cùng có mặt trong phiên chợ Ba Tư của ngày hôm ấy. Và phải chăng, mỗi chúng ta cũng tìm thấy dáng hình mình trong một khúc nhạc nào đó của tác phẩm?
Ba Tư đã cho Ketèlbey nội dung để viết, để “kể” lại; còn chất liệu để tái hiện những nội dung ấy lại được lấy từ âm nhạc phương Tây. Thế nhưng, chúng không đứng riêng rẽ như bên trong - bên ngoài, nội dung ẩn chứa - vỏ bọc, mà cùng nhau tạo nên “Phiên chợ Ba Tư” như một không gian trung gian giữa văn hoá phương Tây và văn hoá phương Đông, tạo điều kiện cho một sự “gặp gỡ” lí thú giữa hai nền văn minh.
Tác giả: Minh Hà
Biên tập: Anh Thư