Hội hoạ/Nghệ thuật thị giác
CỔ MẪU "MẸ" TRONG "BIẾN TƯỢNG" - VŨ HIỆP
Bài viết này được tôi rút gọn ra từ một công trình nghiên cứu khoa học về "Cổ mẫu mẹ trong triển lãm 'Biến tượng' - Vũ Hiệp". Tất nhiên, blog không phải là địa điểm thích hợp để trích dẫn toàn bộ những kết quả nghiên cứu với các thuật ngữ phức tạp, nên tôi chủ động lược bớt phần lí thuyết và diễn giải một số thuật ngữ theo cách dễ tiếp cận hơn, đồng thời giữ lại những kết quả chính của nghiên cứu. Bởi vậy, bài viết chủ yếu giới thiệu một khía cạnh đáng chú ý trong quá trình khám phá triển lãm Biến tượng của Vũ Hiệp. Cũng vì giới hạn dung lượng và mục đích phổ biến kiến thức, bài chỉ phác ra một số hướng đọc chính, chưa đi sâu phân tích đầy đủ từng yếu tố đã nêu.
Trước hết, khi nhắc đến "Mẹ", người xem/nghe thường liên tưởng đến hình ảnh một người phụ nữ gắn với "gia đình" - người phụ nữ mang thai, người mẹ bên con hoặc những cảnh người mẹ gắn với chăm sóc và gia đình. Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật, phạm vi của “Mẹ” rộng hơn hình ảnh người mẹ theo nghĩa sinh học. Cổ mẫu Mẹ có thể gắn với ý niệm về sinh thành, săn sóc - nuôi dưỡng, bao chứa, bảo hộ, quyền năng... Một đặc điểm quan trọng của cổ mẫu Mẹ là tính lưỡng cực: Mẹ có thể đem lại cảm giác an toàn, đồng thời cũng có thể hiện diện như một sức mạnh áp đảo và gây kính sợ.
Khái niệm cổ mẫu được phát triển trong tâm lí học phân tích của Carl Gustav Jung, sau đó được Erich Neumann và nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục mở rộng. Với cổ mẫu Mẹ, phạm vi biểu hiện khá đa dạng: người mẹ, nữ thần, đất, nước, cây cối, hang động, vật chứa cùng nhiều cấu trúc gắn với sinh trưởng và tái sinh đều có thể tham gia vào trường nghĩa mẫu tính. Vì vậy, khi đi vào nghệ thuật, cổ mẫu Mẹ có thể được biểu đạt qua nhiều loại hình tượng, tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa và cách tổ chức hình ảnh của từng tác phẩm. Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng nền tảng cổ mẫu học Jung - Neumann, kết hợp với các hướng tiếp cận về biểu tượng và hình ảnh để khảo sát trường hợp Biến tượng.
Trong triển lãm tranh lụa Biến tượng, Vũ Hiệp sử dụng nhiều chất liệu từ văn học và văn hóa dân gian Việt Nam: truyện kể, tín ngưỡng, con giáp, hoa quả và các biểu tượng quen thuộc trong trí nhớ cộng đồng. Các hình tượng dân gian được cách điệu, biến dạng hoặc kết hợp lại trong một cấu trúc tạo hình mới. Vì vậy, việc đọc Biến tượng cần chú ý đến cả nguồn gốc văn hóa của biểu tượng và cách biểu tượng ấy được tổ chức trong từng bức tranh.
Từ 20 tác phẩm được lựa chọn khảo sát, nghiên cứu xác lập ba dạng biểu hiện chính của cổ mẫu Mẹ: Mẹ nữ tính thẩm mĩ, Mẹ sinh sản – nuôi dưỡng và Mẹ vĩ đại – khủng khiếp. Đây là khung phân loại được xây dựng riêng cho trường hợp Biến tượng, dựa trên lí thuyết Jung – Neumann và hệ thống biểu tượng của triển lãm. Nghiên cứu đồng thời nhận diện các nhóm hình tượng thị giác như Con người/Phụ nữ, Nhạc cụ, Động vật/Con giáp, Thực vật/Hoa quả và Thần linh/Huyền thoại. Nói ngắn gọn, dạng cổ mẫu cho biết mẫu tính đang được biểu đạt ở phương diện nào; nhóm hình tượng cho biết phương diện ấy được thể hiện qua loại hình ảnh nào. Ranh giới giữa các nhóm có độ mở vì một tác phẩm có thể huy động nhiều hình tượng cùng lúc.
Thứ nhất là dạng Mẹ nữ tính thẩm mĩ.
Mẹ nữ tính thẩm mĩ là dạng xuất hiện với tần suất cao nhất trong nhóm tác phẩm khảo sát, gồm 13/20 tác phẩm. Ở dạng này, mẫu tính được tổ chức chủ yếu qua hình dáng mềm mại của cơ thể, dáng người và những chuyển động giàu cảm xúc nữ tính. Các tác phẩm như Cung oán ngâm khúc, Luyện khúc, Những phụ nữ trèo, Giấc mộng đêm hè No.1 hay Vũ điệu mùa dịch đều cho thấy vai trò nổi bật của cơ thể nữ.

Bộ ba tranh “Cung oán ngâm khúc”/ “Complaint of a palace maid” - 20x30 cm - 2020
Hình thể thường được kéo dài, giản lược hoặc cách điệu. Đường cong của thân thể, bầu ngực, tư thế và nhịp điệu chuyển động tham gia trực tiếp vào tổ chức thị giác của tranh. Trong một số tác phẩm, cơ thể phụ nữ được đặt trong quan hệ với nhạc cụ. Đường nét của cơ thể và cấu trúc nhạc cụ có sự tương ứng về hình dạng trên bề mặt tranh; bản thân hình tượng nhạc cụ cũng đưa vào tác phẩm một liên tưởng về tiết tấu và nhịp điệu.

Bộ bốn tranh“Luyện khúc”/ “Étude” - 20x15 cm - 2020
Thứ hai là dạng Mẹ sinh sản - nuôi dưỡng
Dạng Mẹ sinh sản – nuôi dưỡng gồm 6/20 tác phẩm, tương ứng 30%. Nhóm này được nhận diện qua các hình ảnh liên quan đến thai/bầu, liên tưởng đến tử cung, các hình dáng của quả, hạt, mầm, cùng những cấu trúc gợi khả năng chứa đựng, sinh sản, nuôi dưỡng. Mối liên hệ với văn hóa phồn thực và các sinh vật, thực vật tự nhiên giữ vai trò quan trọng trong việc xác định dạng cổ mẫu này.
Trong Mang bầu No.4, các dấu hiệu mẫu tính được biểu đạt khá trực tiếp. Phần bụng mang thai giữ vị trí nổi bật trong hình thể người phụ nữ. Tư thế ngồi khép và hệ thống đường cong tập trung sự chú ý vào trạng thái mang bầu, bao chứa sự sống. Chủ ý tạo hình bụng của người mẹ là hình vuông, cánh tay vòng qua tạo nên hình tròn ôm lấy bụng vuông gợi liên tưởng đến thành ngữ dân gian: "Mẹ tròn con vuông". Ở Mẹ mướp No.1, ý niệm sinh dưỡng tiếp tục được đặt trong quan hệ giữa cơ thể và thế giới thực vật.

Tranh“Mẹ mướp No.1”/ “Mother Sponge No.1” - 20x30 - 2020 và “Mang bầu" No.4”/ “Preganent No.4” - 20x15 - 2019
Đáng chú ý, mẫu tính sinh dưỡng trong Biến tượng còn được biểu đạt qua hình tượng động vật. Hợi là một ví dụ. Hình tượng con lợn vốn có mối liên hệ lâu dài với phồn thực trong văn hóa nông nghiệp. Trong tranh Vũ Hiệp, hệ thống bầu vú được kéo dài và cách điệu. Trong Ngọ, bầu ngực cũng được nhân lên gấp bội. Hình ảnh con giáp trở thành một phương tiện biểu đạt cảm thức mẫu tính sinh sản rõ nét, là sự kế thừa và sáng tạo từ các tranh dân gian Đông hồ Việt Nam.

Tranh “Hợi”/ “Pig” - 40x30 cm - 2020 và “Ngọ”/ “Horse” - 40x30 cm - 2020
Đến các tác phẩm Dứa, Dưa hấu và Thanh long, hình ảnh người mẹ trực tiếp rời khỏi cấu trúc tranh. Mẫu tính lúc này được chuyển sang hình thể của hoa quả. Phần ruột, hạt, độ căng đầy và cấu trúc bao chứa tạo ra những liên tưởng đến phạm trù của sự sinh sản, các liên tưởng phồn thực. Nghiên cứu xác định đây là những trường hợp điển hình trong nhóm Mẹ sinh sản – nuôi dưỡng.
Có thể nói, việc chuyển dịch cách biểu đạt mẫu tính từ cơ thể người sang thực vật liên quan trực tiếp đến khái niệm sinh dưỡng. Quả chứa hạt, hạt có khả năng nảy mầm, bởi vậy mà một chu trình sống mới tiếp tục từ đó. Trong môi trường văn hóa nông nghiệp, những cấu trúc hình ảnh như quả, hạt và mầm có quan hệ chặt chẽ với quan niệm phồn thực, mong ước mùa màng bội thu và tiềm tàng những khả năng của ý niệm tái tạo sự sống.

Tranh“Dứa”/ “Pineapple” - 40x30 cm – 2021 và “Thanh long”/ “Dragon Fruit” - 30x40 cm – 2023 cùng “Dưa hấu”/Watermelon – 30x40cm - 2022
Đây cũng là điểm giúp giải thích tên gọi Biến tượng. Trong nghiên cứu, quá trình “biến tượng hóa” được mô tả qua ba thao tác chính: hình tượng được chuyển từ nghĩa đời thường sang một trường nghĩa biểu tượng; ý nghĩa phồn thực được tập trung vào hình thể và những cấu trúc có tính “vật chứa”; kí ức văn hóa của người xem được huy động trong quá trình tiếp nhận.
Nhờ vậy, cổ mẫu “Mẹ” trong Biến tượng có thể xuất hiện dưới dạng cơ thể người, quả, hạt hay một cấu trúc hình ảnh thuộc về các sinh thể tự nhiên. Mẫu tính được mở rộng từ kinh nghiệm sinh học của con người sang chu trình sinh trưởng của sự sống nói chung.
Thứ ba là Mẹ vĩ đại - khủng khiếp
Dạng Mẹ vĩ đại – khủng khiếp xuất hiện với tần suất thấp nhất: 1/20 tác phẩm, tương ứng 5%. Tác phẩm tiêu biểu là Bà chúa Luồng. Ở dạng này, mẫu tính được đặt trong quan hệ với các linh vật mang quyền năng, sự huyền bí, dị biệt và cảm giác áp đảo đem lại cho người đọc thông qua cấu trúc thị giác. Các cấu trúc lai ghép giữa người, sinh vật và thần linh cũng trở thành dấu hiệu nhận diện quan trọng.

Tranh “Bà chúa Luồng”/ “Lady Luồng” - 30x40 cm - 2021
Khái niệm “khủng khiếp” trong cổ mẫu học mang một nghĩa chuyên biệt. Nó gắn với tính lưỡng cực của Đại Mẫu. Mẹ có thể che chở và bảo trợ; Mẹ cũng có thể trấn áp, hủy diệt hoặc hấp thụ cá thể trở lại vào một quyền lực lớn hơn. Trong hệ thống cổ mẫu Jung – Neumann, hai phương diện này cùng thuộc về một cấu trúc mẫu tính. Chúng phản ánh kinh nghiệm nguyên sơ của con người trước tự nhiên: tự nhiên nuôi sống con người, đồng thời sở hữu những sức mạnh có khả năng vượt khỏi sự kiểm soát của con người.
Trong Bà chúa Luồng, hình tượng trung tâm kết hợp các dấu hiệu nữ tính với đặc điểm của sinh thể thủy giới và trường liên tưởng thần thoại. Danh xưng “bà chúa” cũng góp phần xác lập sắc thái quyền lực. Mẫu tính ở đây được đưa sang bình diện linh thiêng và siêu nhiên, nơi người Mẹ mang dáng dấp của một lực lượng nguyên sơ đầy quyền năng.
Bối cảnh văn hóa Việt Nam cũng tham gia vào cách đọc này. Trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, các lực lượng tự nhiên như trời, nước, rừng và đất được gắn với những hình tượng Mẫu. Trong Biến tượng, Mẹ Âu Cơ và trống No.1 và Bà chúa Luồng đều huy động nhóm mã Thần thoại, dù hai tác phẩm được xếp vào hai dạng cổ mẫu khác nhau trong hệ thống phân loại của nghiên cứu. Mẹ Âu Cơ và trống No.1 thuộc nhóm Mẹ sinh sản - nuôi dưỡng; Bà chúa Luồng thuộc nhóm Mẹ vĩ đại - khủng khiếp.

Tranh“Mẹ Âu Cơ và trống No.1”/ “Mother Âu Cơ and Drum No.1” - 20x30 cm - 2020
Dạng Mẹ vĩ đại - khủng khiếp đưa cổ mẫu Mẹ tới cấp độ nghĩa linh quyền. Mẫu tính lúc này gắn với sức mạnh tự nhiên và cái thiêng.
Sự đa dạng của các biểu hiện cổ mẫu "Mẹ" trong "Biến tượng" - Vũ Hiệp cũng là điểm khiến việc nghiên cứu cổ mẫu trong hội họa trở nên thú vị.
Tác giả: Anh Thư, Mai Phương
Biên tập: Anh Thư