Tác phẩm văn học
LỜI "CHÀO NGUYÊN XUÂN" CỦA BÙI GIÁNG
Khi viết về “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho rằng: “Ở cõi đời này, anh đã đến, đã sống và đã rơi vào một cơn hôn mê bất tận. Anh nói cười bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ với thế gian và từ đó sinh ra ngộ nhận. Ngộ nhận gây nên đau đớn và cũng từ phía đau đớn ấy, anh như kẻ đắm tàu mang đi cùng mình một nỗi tuyệt vọng bất khả tư nghì.”
Nhưng trở về thuở đầu mùa “Mưa nguồn”, ta còn gặp một Bùi Giáng rất đỗi yêu đời. Bài thơ “Chào nguyên xuân” của ông tươi trẻ lạ thường. Ở đó, những con người chào nhau giữa con đường, giữa làn môi, giữa bụi cây… rất đỗi đằm thắm, tha thiết. Và bất ngờ, khoảnh khắc ly biệt cũng chính là lúc hẹn hò, là dự báo sự trùng ngộ của ngày sau. “Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau” nghe ra thoáng một chút bùi ngùi… Bởi, gặp nhau đã có nghĩa là rồi sẽ xa nhau. Người ta vô ý dừng lại giữa đường, chào hỏi đôi câu rồi tiếp tục cuộc hành trình cuộc đời và duy chỉ khác cái là từ đó, lòng họ mang theo chút quyến luyến từ một cuộc gặp tình cờ. Có lẽ cũng vì cái quá ngắn ngủi của gặp gỡ mà chưa kịp biết nhiều về nhau, chưa kịp nói cho hết, mà đã nghĩ đến ngày xa cách. Niềm vui hiện tại vì thế phảng phất một nỗi buồn. Mùa xuân đang ở phía trước, tóc xanh rồi sẽ phai màu, nhưng người vẫn cùng cây xanh hẹn ước. Có những điều dẫu biết trước là sẽ chóng đổi dời mà vẫn muốn gửi vào đó một ước hẹn lâu bền.
Tôi nhớ đến “Mai sau em về”, khi Bùi Giáng cũng gửi một lời hỏi về phía xa xôi:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không.
Mấy thế kỉ đã đi qua, người trở về liệu còn nhận ra màu trăng ngày cũ? Khoảng thời gian ấy dài đến mức một cuộc đời trôi qua cũng chẳng thể đợi, vậy mà vẫn muốn hỏi, vẫn muốn có người nhớ đến những gì mình từng yêu mến. Đặt bên lời chào giữa đường, lời hỏi ấy càng khiến tôi thấy Bùi Giáng tha thiết với những cuộc gặp. Một bận được ở bên nhau có thể trở thành điều để mang theo bên mình bền bỉ cho đến khi người đã đi xa vẫn còn muốn gửi lại chút gì trong cảnh vật.
Trong niềm lưu luyến ấy, cảnh vật cũng trở nên có tình. “Có trời mây xuống lân la”, rồi nhìn xa lại thấy “bóng áng mây nghiêng đầu”. Trời mây dường như cũng muốn đến gần, cũng muốn tham dự vào cuộc gặp của con người. Bên bờ nước, bóng ta ở bên người; giữa bàn tay, những ngón nhỏ đã có thể chào nhau. Lời chào cứ trở đi trở lại, từ con đường đến làn môi, từ khoảng trời thênh thang rộng đến những gì bé nhỏ thân mật. Có cảm giác cả thế giới đang cứ theo quán tính mà dần xích lại gần nhau. Một bận gặp giữa đường chợt khiến người nhận ra mình gắn bó với cuộc đời đến nhường nào.
Sự gắn bó ấy đã lần nữa, hiện lên tha thiết trong “Phụng hiến”:
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương.
Bùi Giáng yêu cả những cánh bướm, chuồn chuồn, những sinh vật bé nhỏ và hoa hoang cỏ dại. Dường như mọi sự sống quanh ông đều đáng để lưu tâm, thương mến. Đã gửi lòng mình vào trần gian nhiều đến thế, đến lúc phải rời đi hẳn sẽ tiếc thương. Tôi nghĩ lời chào trong “Chào nguyên xuân” cũng bắt nguồn từ tình yêu ấy. Gặp một người giữa đường, nhìn một áng mây nghiêng đầu, thấy bóng mình bên bóng người trên bờ nước, đều có thể khiến lòng vui lên, đều đáng để ghi khắc.
Dẫu vậy, trong cái tươi trẻ của “Chào nguyên xuân” vẫn có “hồng tàn lệ”, có một đời “chửa cam”, có nỗi bạc mệnh mà người xin nhận lấy. Và trước thời “Mưa nguồn”, cuộc đời Bùi Giáng đã trải qua một mất mát lớn: người vợ trẻ của ông qua đời năm 1948. Vũ Đức Sao Biển kể rằng những năm tháng chăn dê giữa núi rừng đem lại cho ông nhiều niềm vui và cảm hứng, nhưng cũng gắn với mong muốn nguôi quên đi hình bóng người vợ yêu dấu đã lìa chia. Vì chuyện ấy mà mới thấy. niềm yêu đời trong thơ Bùi Giáng càng thêm đằm thắm. Ngay trong những năm tháng còn trẻ, niềm vui đã đi cùng thương nhớ; cảnh vật đem lại sự khuây khỏa, rồi cũng lại có thể gợi nhắc lại bóng dáng người xưa. Bùi Giáng đã nghĩ đến phai tàn, đến buồn đau, rồi vẫn tha thiết với “giờ vui bất tuyệt”. Giữa niềm vui ấy, ông muốn “xin làm cỏ cây”, muốn được sống tiếp trong sắc xanh đang ở quanh mình. Mong muốn ấy nghe thật hiền lành và đáng trọng. Cỏ cây có thể ở lại nơi con người từng gặp gỡ, tiếp tục "xanh" qua những mùa người đã "xa". Và có lẽ, gửi mình vào cỏ cây cũng là gửi lại một chút tình với nơi chốn, với người đã cùng mình chào nhau một bận. Trời đất vẫn còn đó, cây vẫn xanh, mây vẫn đến gần, như có thể giang tay gìn giữ hộ con người những gì họ chẳng muốn rời quên.
Cuộc hỏi đáp cuối bài cũng mang theo sự quyến luyến ấy. “Người ở quê đâu” vốn là thắc mắc xã giao thân thuộc, nhưng từ chỗ chuyện quê nhà, câu chuyện cứ tiếp mãi mở ra những dặm đường xa. “Tôi ở rất lâu quê nhà”, vậy mà bước chân ra đã thấy gió trải dài, đã thấy mùa xuân đương đợi. Nghe như người đang trò chuyện cũng mải nghĩ về cuộc đi của mình, về những gì đã thân thuộc và những gì còn đón đợi ở phía trước. Có lúc ngập ngừng, có lúc bông đùa: “nói nữa là sai”. Nhưng đến khi tự hỏi “Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau”, lời đáp lại trở nên tha thiết lạ thường. Một cuộc gặp ngẫu nhiên vẫn có thể khiến người ta nhớ, vẫn có thể để lại một lời hẹn.
“Ly biệt mai sau / Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.” Đến đây, chút bùi ngùi từ đầu bài dường như đã tìm được nơi nương tựa. Người ta sẽ xa nhau, nhưng vẫn có thể tin vào một ngày gặp lại. Ngày ấy chưa biết ở đâu, bao giờ, chỉ thấy có hương màu của một mùa xuân còn nguyên vẻ tươi trẻ. Nếu trong “Mai sau em về” còn có chút lo âu rằng màu trăng cũ sẽ đổi khác, thì ở đây, lời hẹn đem lại cảm giác yên lòng. Những gì đẹp đẽ của cuộc gặp hôm nay dường như vẫn có thể chờ ta ở một ngày sau, dẫu có xa xôi mãi mãi.
Biết tóc xanh sẽ phai, biết cuộc gặp sẽ qua, mà vẫn chào nhau đằm thắm, vẫn gửi một lời hẹn về sau. Nghĩ đến những mất mát ông đã trải qua, lời hẹn ấy càng khiến người đọc bâng khuâng. Có lẽ nhờ thế, mùa xuân trong bài thơ vẫn luôn "xanh" mãi. Qua một bận chào nhau và qua cả những dặm dài ly biệt, nghĩ về người vẫn thấy lòng mình trở lại với niềm vui của buổi ban đầu "nguyên xuân".
Tác giả: Anh Thư
Biên tập: Anh Thư