Tác phẩm văn học
XUÂN DIỆU HAY “XUÂN KHÔNG MÙA”?
Đã là xuân, sao lại “không mùa”? Xuân không mùa tự nó đã chứa một nghịch lí. Xuân vốn là một mùa của năm, có khởi đầu và kết thúc, có những dấu hiệu riêng của thời tiết. Nhưng “xuân” trong thơ Xuân Diệu dường như không chịu nằm yên trong giới hạn ấy. “Xuân” có thể đến giữa cái đông giá lạnh, cái nóng bức của hè tới và từ trong lòng cơn gió heo may mỗi độ thu về. Bởi trước khi có mặt trong trời đất, “xuân” đã đầy dâng trong lòng người.
“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.”
“Xuân” sinh thành nên từ những cái bé, cái “ít”: “một ít”, “mấy”, “vài”, hay “năm bảy”. Không cần câu nệ chi nhiều, “xuân” cứ nhỏ nhẹ và duyên dáng như một thiếu nữ trữ tình. Cảnh vật vì thế hiện ra bằng vài nét chấm phá của nắng và sương, điểm tô dăm sắc màu mà đã đủ khiến nhân vật thốt lên: “Thế là xuân”. Ngoại giới chỉ cần một tín hiệu bé con để đánh thức cái “xuân” vốn đã “lai láng” bên trong lòng người.
Bởi thế mà xuân có thể đến bất cứ lúc nào: khi “nắng rạng đến tình cờ”, “chim trên cành há mỏ hót ra thơ”. Chính những sự vụ “đến tình cờ”, “không định trước” làm nên cái trạng thái “không mùa” của bài thơ, rằng cái đẹp chưa kịp định hình thành một mùa trọn vẹn đã được tâm hồn thi sĩ nhận ra và đón lấy:
“Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.”
Bởi thế mới có một mùa xuân “ở giữa mùa đông khi nắng hé”, “giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa”, “giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa”. “Xuân” từ những hình thù bé nhỏ của dấu hiệu thiên nhiên trở thành một cách cảm nhận đời sống. Lá bàng chưa kịp rụng và hoa bỗng ửng màu, cây nhãn bất chợt dậy hương đủ để thi nhân khẳng định qua mộ câu hỏi: “Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa”. Khi cái đẹp đã hiện hữu, còn cần đợi chờ chi một mùa xuân nào khác?
Đến phần sau, “xuân” từ ngoại cảnh dần chuyển vào lòng người. Không phải thứ yêu mãnh liệt của mùa hạ. Không phải thứ yêu man mác buồn của mùa thu, cũng không phải thứ yêu buồn da diết như mùa đông, mà là thứ yêu nhẹ nhàng và trong sáng như một cô thiếu nữ mặc bộ áo dài trắng, mang trong mình một sự hồn nhiên của tuổi trẻ, của tuổi xuân. “Ấy là thư hồi hộp đón trong tay” - một tình cảm giản đơn và vô tư, không quan trọng trải nghiệm, kinh nghiệm mà là sự chân thành, sự bối rối và hồi hộp, sự ngại ngùng và e ấp, như thể mùa xuân. Ấy cũng “là dư âm giọng nói đã lâu ngày”: một sự trẻ trung của một thứ tình yêu bất chợt đến trong một ngày nào đó mà “nắng rạng đến tình cờ”. Điệp cấu trúc “Ấy…” lặp lại tới 4 lần, để rồi nhịp điệu của trái tim được gọi tên qua mối quan hệ giữa “nở” và “tàn”:
“Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.”
“Nở” và “tàn” vốn thuộc về sắc thái của cây cỏ, nay được chuyển vào đời sống tình cảm của con người. Trái tim cũng có mùa của riêng nó: có thể tàn đi rồi lại có thể nở thêm một/triệu lần nữa. Đến đây, thiên nhiên và lòng người gặp nhau trong cùng một chữ “xuân” và chợt nhận ra: “Thế là xuân” rồi.
“Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.”
Đến đây, nghịch lí “xuân không mùa” đã được giải đáp. “Xuân không mùa” là “xuân” đã thoát khỏi giới hạn của các định nghĩa về thời tiết để nhập hòa vào trạng thái của tâm hồn. Xuân là tình người, kể chi ngày tháng. Thuở nào còn biết yêu, xuân chính là ngày đó!
Tác giả: Minh Hà, Anh Thư
Biên tập: Anh Thư